SỐ LƯỢT TRUY CẬP

5
0
0
7
1
9
5
4
Tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật Thứ Ba, 02/10/2018, 14:05

Luật Quốc phòng năm 2018: Bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật có liên quan

Luật Quốc phòng năm 2018 gồm 7 chương, 40 điều, có hiệu lực từ ngày 1/1/2019, là sự kế thừa Luật Quốc phòng năm 2005, thể hiện đầy đủ quan điểm, chủ trương của Đảng về quốc phòng, quân sự, bảo vệ Tổ quốc; cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật có liên quan. Đồng thời phát triển thêm một số quy định mới phù hợp với đặc điểm tình hình thế giới, khu vực và thực tiễn nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

 

Ảnh: T.L

NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG

Luật Quốc phòng năm 2018 tiếp tục thể hiện nguyên tắc nhất quán: Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt, Chính phủ điều hành, Chủ tịch nước thống lĩnh về lực lượng vũ trang; xác định đường lối về chiến tranh nhân dân, về quốc phòng toàn dân là chủ đạo. Luật quy định đầy đủ, toàn diện hơn về quốc phòng của đất nước, nhất là các hoạt động quốc phòng, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước, đáp ứng hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Nguyên tắc hoạt động quốc phòng là tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng cộng sản Việt Nam, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước. Củng cố, tăng cường quốc phòng là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc và cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân. Kết hợp quốc phòng với kinh tế - xã hội và kinh tế - xã hội với quốc phòng. Kết hợp quốc phòng với an ninh, đối ngoại.

CÁC HÀNH VI BỊ NGHIÊM CẤM

Chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, nhân dân, Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thành lập, tham gia, tài trợ tổ chức vũ trang trái pháp luật.

Điều động, sử dụng người, vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, trang bị thiết bị, phương tiện để tiến hành hoạt động vũ trang khi chưa có lệnh hoặc quyết định của cấp có thẩm quyền hoặc không có trong kế hoạch huấn luyện, diễn tập, sẵn sàng chiến đấu đã được phê duyệt. Chống lại hoặc cản trở cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ quốc phòng. Lợi dụng, lạm dụng việc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng để xâm phạm lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Phân biệt đối xử về giới trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng.

QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÔNG DÂN VỀ QUỐC PHÒNG

Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân. Công dân có nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc; phải thực hiện nghĩa vụ quân sự; có nghĩa vụ tham gia Dân quân tự vệ, xây dựng nền quốc phòng toàn dân; chấp hành biện pháp của Nhà nước và người có thẩm quyền trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng theo quy định của luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan. Công dân được tuyên truyền, phổ biến đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng; giáo dục quốc phòng và an ninh; trang bị kiến thức, kỹ năng về phòng thủ dân sự theo quy định của pháp luật. Công dân phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân hoặc được huy động làm nhiệm vụ quốc phòng thì bản thân và thân nhân được hưởng chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật. Công dân bình đẳng trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng.

K.K (tổng hợp)

Nguồn baobaclieu.vn


Số lượt người xem: 1251 Bản inQuay lại

TIN MỚI HƠN

TIN ĐÃ ĐƯA

Xem tiếp
Xem theo ngày Xem theo ngày