SỐ LƯỢT TRUY CẬP

4
6
0
0
5
9
6
3
Giới thiệu về Bạc Liêu Thứ Bảy, 17/07/2010, 15:10

Vị trí - địa lý và điều kiện tự nhiên

Bạc Liêu là tỉnh miền Tây Nam Bộ, thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Phía Bắc giáp tỉnh Hậu Giang và Kiên Giang; phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Sóc Trăng; phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Cà Mau; phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông với bờ biển dài 56 km. Bạc Liêu có địa hình khá bằng phẳng với những cánh đồng rộng, sông ngòi, kênh rạch chằng chịt. Bạc Liêu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết chia làm hai mùa rõ rệt: Mùa nắng và mùa mưa.

Tỉnh Bạc Liêu được thành lập ngày 20 tháng 12 năm 1899, chính thức hoạt động từ ngày 01 tháng 01 năm 1900. Năm 1956, tỉnh Bạc Liêu nhập vào tỉnh Ba Xuyên. Năm 1973, tỉnh Bạc Liêu được tái lập. Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975, tỉnh Bạc Liêu nhập vào tỉnh Minh Hải. Ngày 06 tháng 11năm 1996, tỉnh Bạc Liêu được tái lập, chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01 tháng 01 năm 1997.Danh xưng “Bạc Liêu”, đọc theo tiếng Trung, giọng Triều Châu là Pô Léo, có nghĩa là xóm nghèo, làm nghề hạ bạc, tức nghề chài lưới, đánh cá, đi biển. Pô phát âm theo tiếng Hán Việt là “Bạc” và Léo phát âm là “Liêu”. Một giả thuyết khác cho rằng: Pô là bót, đồn. Liêu là Lào (Ai Lao) theo tiếng Khơme, vì trước khi người Hoa kiều đến sinh sống, nơi đó có một đồn binh của người Lào. Còn người Pháp, họ căn cứ vào tên Pô Léo theo tiếng Triều Châu nên gọi vùng đất này là Phêcheri - chaume (đánh cá và cỏ tranh). Ngoài ra còn một số giả thiết khác.

Diện tích tự nhiên của tỉnh là 2.570 km2 bằng 1/16 diện tích của Vùng Đồng bằng sông Cửu Long; với dân số 874.107 người (tính đến năm 2013). So với 12 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, diện tích Bạc liêu thuộc loại trung bình, đứng vào hàng thứ 7, nhưng dân số đứng vào hàng thứ 11, gồm các dân tộc chính là kinh, Khmer và người Hoa chung sống cùng nhau trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Trong đó người Kinh chiếm 89,9%, Khmer 7,66% và Hoa 2,34%. Dân số thành thị chiếm 26,53%, dân số nông thôn chiếm tỷ lệ 73,47% so với dân số toàn tỉnh. Đơn vị hành chính tỉnh hiện tại gồm 7 đơn vị hành chính là: Thành phố Bạc Liêu trung tâm tỉnh lỵ và 6 huyện gồm: Vĩnh Lợi, Hoà Bình, Giá Rai, Đông Hải, Phước Long và Hồng Dân. Tỉnh đang lập hồ sơ trình Trung ương nâng huyện Giá Rai thành thị xã vào năm 2015.

 

Bản đồ hành chính tỉnh Bạc Liêu

Từ xa xưa, Bạc Liêu đã nổi tiếng là một miền đất trù phú, thiên nhiên ưu đãi, mưa thuận gió hòa, có nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng để phát triển ngành kinh tế biển, nông - ngư nghiệp, thương mại, dịch vụ và du lịch. Thế mạnh của tỉnh là nông – ngư nghiệp, với diện tích canh tác nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản khá lớn, cùng với thềm lục địa tương đối rộng và một ngư trường rộng trên 40.000km2.

Bạc Liêu là nơi hội tụ của nhiều dòng văn hoá, đặc biệt là sự giao thoa giữa 3 dòng văn hoá của người Kinh, người Khmer và người Hoa đã tạo nên cho vùng đất này một diện mạo văn hóa riêng. Đó là những nề nếp sinh hoạt ăn, mặc, ở, đi lại, đấu tranh sinh tồn với thiên nhiên và ngoại xâm…, tất cả đã tạo nên tính cách cũng như những nét độc đáo của con người Bạc Liêu. Trong giao tiếp, người Bạc Liêu rất hiếu khách, trọng nghĩa tình, giàu lòng nhân ái, hào hiệp. Trong sinh hoạt, người Bạc Liêu rất cần cù; phóng khoáng. Người Bạc Liêu rất yêu nghệ thuật, đặc biệt là bản vọng cổ và đờn ca tài tử Nam bộ; Bạc Liêu là nơi sản sinh ra bản “Dạ cổ hoài lang” của cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu, là một trong những cái nôi của đờn ca tài tử Nam bộ, là quê hương của bản Vọng cổ, điệu nói thơ Bạc Liêu và làn điệu hò chèo ghe Bạc Liêu,… Trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm, người dân Bạc Liêu luôn dũng cảm, kiên trung, thể hiện qua những chiến tích oai hùng quật khởi chống lại sự đàn áp của thực dân Pháp được ghi lại đến ngày nay như cuộc nổi dậy của nông dân ở Ninh Thạnh Lợi, Đồng Nọc Nạng. Cùng những người anh hùng của Bạc Liêu trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc đã được ghi lại thành tên đất, tên đường phố như: Trần Kim Túc, Mười Chức, má Nguyễn Thị Mười, Trần Hồng Dân, Lê Thị Riêng, Phùng Ngọc Liêm, Trần Huỳnh, Nguyễn Công Tộc,… còn vang mãi trong ký ức của người dân Nam Bộ như khúc ca hùng tráng về lịch sử chống giặc ngoại xâm của nhân dân Bạc Liêu nói riêng và của người dân Nam Bộ nói chung.

2. Về kinh tế

Khi được tái lập tỉnh lần thứ 2 (năm 1997), tỉnh Bạc Liêu có xuất phát điểm rất thấp so với các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, với những bộn bề khó khăn của một tỉnh nghèo, nhưng với khát vọng vươn lên của Đảng bộ, quân và dân Bạc Liêu đã không ngừng phấn đấu, vượt qua vô vàn khó khăn, huy động mọi nguồn lực trong và ngoài tỉnh chấn hưng tỉnh nhà, đến nay tỉnh đã đạt được những thành tựu vượt bậc về các mặt kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng. Nền kinh tế tăng trưởng cao, bình quân giai đoạn (2000 – 2010) là 11%, giai đoạn 2010 đến nay tăng trưởng bình quân là 12%. Quy mô kinh tế không ngừng lớn mạnh.

 


Bình minh trên công trình Điện gió Bạc Liêu

Tổng sản phẩm trong tỉnh khi mới tái lập trên 1.660 tỷ đồng (theo giá cố định) thì đến năm 2013 đã lên đến gần 12.000 tỷ đồng gấp 7,2 lần chỉ trong vòng 15 năm qua. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, tỷ trọng của khu vực nông nghiệp khi chia tách tỉnh còn chiếm trên 70% thì đến năm 2013 đã giảm xuống 50,6%, nhường chỗ cho công nghiệp và dịch vụ phát triển nhanh chóng. Thu nhập bình quân đầu người năm 2013 là 34,3 triệu đồng/người. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 28% xuống 9,8% năm 2013. Các chỉ số về phát triển thiên niên kỷ của quốc gia thì Bạc Liêu đều đạt và vượt trước mục tiêu đề ra năm 2015 như: Tỷ lệ giảm đói nghèo, tình trạng mù chữ, số người dùng nước sạch, giảm tỷ lệ sinh, chăm sóc sức khoẻ sinh sản…. đời sống của nhân dân không ngừng được nâng cao, bộ mặt thành thị và nông thôn không ngừng thay đổi từng ngày.

Ngày xưa du khách biết đến với Bạc Liêu là vựa lúa, vựa tôm của Vùng Đồng bằng sông Cửu Long thì ngày nay tỉnh đã quy hoạch lại. Nội địa được chia làm 2 vùng sản xuất rõ rệt, vùng Bắc và vùng Nam Quốc lộ 1A, trở thành các vùng chuyên canh lớn:

- Vùng Bắc được quy hoạch là vùng sản xuất chuyên lúa ổn định với diện tích canh tác 54.800 ha. Nơi đây những mô hình “Cánh đồng mẫu lớn”, ứng dụng công nghệ cao, sản xuất theo quy trình VietGAP,… đã được hình thành, sản xuất ra những loại lúa đặc sản, lúa chịu mặn mang thương hiệu Bạc Liêu, như: Lúa chất lượng cao, Một bụi đỏ, Tài nguyên,…. thơm ngon nổi tiếng khắp vùng, bảo đảm cho an ninh lương thực và xuất khẩu; sản lượng lúa năm 2013 đạt 990.500 tấn, tăng 473.090 tấn so với năm 1997.

 


Cánh đồng lúa chín vàng

- Vùng Nam được xác định là vùng nuôi trông thủy sản và làm muối, trong đó có 15.000 ha chuyên nuôi tôm công nghiệp – bán công nghiệp, còn lại là diện tích nuôi tôm quảng canh cải tiến; hình thành một số mô hình sản xuất mới, đem lại hiệu quả cao, như: Nuôi tôm thẻ siêu thâm canh trong nhà kín của Công ty Hải Nguyên, với quy mô 60 ha, năng suất bình quân từ 150 đến 200 tấn/ha/năm; nuôi tôm sú, tôm thẻ thâm canh theo hướng VietGAP;…đã góp phần nâng sản lượng thủy sản tăng lên nhanh chóng từ 50 nghìn tấn năm 1997 lên 263 nghìn tấn năm 2013. Diện tích muối giữ ổn định 2.500 ha, Bạc Liêu là nơi cung cấp một số lượng muối khá lớn cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Ngày xưa các văn nghệ sĩ thường hay nói vui rằng về Bạc Liêu là về “ Tỉnh Muối”, quả thật như vậy. Muối Bạc Liêu xưa nay vốn nổi tiếng về chất lượng do không có vị đắng, chát và ít lẫn tạp chất; hiện nay Muối Bạc Liêu đã được ghi vào sách chỉ dẫn địa lý và công nhận thương hiệu của Quốc gia.

 


Ao nuôi tôm công nghiệp – bán công nghiệp

Công nghiệp của tỉnh Bạc Liêu cũng có bước phát triển đáng kể. Hiện nay toàn tỉnh có 33 nhà máy chế biến thủy sản với công suất trên 100 ngàn tấn/năm; hàng trăm cơ sở xay xát lúa gạo, trong đó có Nhà máy chế biến gạo xuất khẩu công suất 200.000 tấn/năm; 2 nhà máy chế biến muối Iốt xuất khẩu công suất 10.000 tấn/năm;…. Với những chính sách thu hút đầu tư hấp dẫn của tỉnh nên đã có nhiều nhà đầu tư đến với Bạc Liêu đầu tư vào chế biến nông thủy sản, giầy da, may mặc, bao bì, bia và nước giải khát, đặc biệt dự án Nhà máy điện gió Bạc Liêu đã và đang mở ra hướng đi mới trong phát triển kinh tế - xã hội, thực tế đã và đang đóng góp giá trị sản lượng, mức tăng trưởng đáng kể cho ngành công nghiệp của tỉnh Bạc Liêu. Giá trị sản xuất của ngành công nghiệp tỉnh tăng bình quân trong thời kỳ 2006 – 2010 là 12%, giai đoạn 2011 – 2015 là 19%. Đạt giá trị sản lượng 5.800 tỷ đồng, gấp 9,4 lần so với năm đầu tái lập tỉnh. Kim ngạch xuất khẩu của tỉnh đạt 377 triệu USD.

 


Giao thông Khu hành chính tỉnh Bạc Liêu

3. Về xây dựng kết cấu hạ tầng

Kết cấu hạ tầng giao thông là huyết mạch của phát triển kinh tế - xã hội nên được Tỉnh Ủy, HĐND - UBND Tỉnh đặc biệt quan tâm đầu tư. Nếu cách đây khoảng 20 năm trở về trước, hành khách về các vùng nông thôn của tỉnh Bạc Liêu đi chủ yếu bằng phương tiện đường thủy, thì ngày nay hệ thống giao thông đường bộ được đầu tư kết nối khá hoàn thiện. Đường thủy chỉ còn sử dụng cho vận tải hàng hóa.

Về đường bộ vẫn là hệ thống giao thông quan trọng chủ yếu của tỉnh: Hiện nay tỉnh có 3 tuyến Quốc lộ chạy qua:

+ Quốc lộ 1A đoạn qua tỉnh dài 63 Km.

+ Quản Lộ - Phụng Hiệp dài 52 Km.

+ Tuyến Nam Sông Hậu đoạn qua tỉnh dài 12,3 Km.

Hệ thống đường tỉnh đã được đầu tư gồm các tuyến Giá Rai – Gành Hào, đường Cầu Sập – Ninh Quới – Ngan Dừa; Giá Rai – Phó Sinh – Cạnh Đền; Hộ Phòng – Chủ Chí (có thể gọi là đường trục ngang) kết nối với các tuyến Quốc lộ, cùng với 07 tuyến đường huyện, tạo thành mạng lưới giao thông đi lại giữa các vùng nông thôn với các tỉnh trong vùng khá thuận lợi.

Về đường thủy, vùng đất Bạc Liêu có sông ngòi chằng chịt nhưng nhỏ và bị bồi lắng nên phục vụ cho giao thông vận tải không nhiều. Trong thời Pháp thuộc đã đào một số kênh (Đào trong thời kỳ từ 1915-1931), ngày nay các con kênh này đã trở thành một số tuyến giao thông đường thủy chủ yếu như: Kênh Xáng Cà Mau – Bạc Liêu, kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp, kênh Cầu Sập đi Ninh Quới – Ngan Dừa, Giá Rai – Phó Sinh, Hộ Phòng – Chủ Chí; kênh tự nhiên hiện nay là đường giao thông chính chỉ còn tuyến Bạc Liêu – Vĩnh Châu và Cổ Cò.

Hạ tầng thông tin liên lạc được đầu tư khá hiện đại. Mạng lưới thông tin di động và Internet kết nối đến từng xã, ấp đáp ứng nhu cầu thông tin của tỉnh. Hệ thống mạng lưới điện đã được xây dựng các tuyến trung, hạ thế phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt – hiện nay có 98% số hộ có điện sinh hoạt.

Hệ thống cấp thoát nước phục vụ cho thành thị và các vùng nông thôn cũng đạt được thành tựu đáng phấn khởi. Đến nay đã có 98% số hộ sử dụng nước hợp vệ sinh.

Các cơ sở y tế giáo dục được đặc biệt quan tâm đầu tư. Hiện tại có 1 Bệnh viện đa khoa tỉnh với 800 giường; Bệnh viện tuyến huyện đã được xây kiên cố ở 5 trung tâm các huyện có công suất từ 100 – 200 giường; mỗi xã đều có trạm y tế đủ khả năng khám và chữa bệnh cho người dân. Bạc Liêu cũng có thể coi là một cực trong lĩnh vực đào tạo, dạy nghề của Khu vực; hiện tại tỉnh có 06 trường công lập hệ Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp, hàng năm đào tạo gần 8.000 học viên, sinh viên đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực trong và ngoài tỉnh. Các cơ sở trường học lớp học được xây dựng khang trang, tỷ lệ phòng học kiên cố chiếm 62% số phòng học.

Thành phố Bạc Liêu là đô thị loại III. Trung tâm tỉnh lỵ, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá khoa học kỹ thuật của tỉnh Bạc Liêu. Hạ tầng đô thị trong những năm gần đây được quan tâm đầu tư, 06 tuyến đường trục hướng tâm, 04 tuyến đường trục xuyên tâm, các đường phố nằm trong trung tâm gồm 21 tuyến phố chính. Hầu hết đã được nâng cấp và đầu tư mới hoàn chỉnh theo hướng xanh sạch đẹp văn minh. Trung tâm hành chính tỉnh được đầu tư xây dựng khang trang hơn, nhiều công trình công cộng, văn hóa phúc lợi được hình thành tạo dáng vẻ bề thế, văn minh, có chiều sâu văn hóa và ý nghĩa lịch sử, như: Quảng trường Hùng Vương, tòa nhà Tower; Trung tâm triễn lãm văn hóa, văn học – nghệ thuật và Nhà hát Cao Văn Lầu; Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ; Tượng đài sự kiện Mậu Thân;… nhiều khu đô thị mới được hình thành và phát triển nhanh như khu địa ốc, khu dân cư phường 2, khu dân cư phường 5, khu dân cư Bến xe – bộ đội Biên phòng, Tràng An,… Về quy mô đô thị của thành phố đã được mở rộng gấp 3 lần so với trước đây. Hiện nay, tỉnh đang lập hồ sơ để trình Trung ương công nhận là thành phố loại II trực thuộc tỉnh vào cuối năm 2014.

 


Trung tâm Triển lãm văn hóa – Nghệ thuật và Nhà hát Cao Văn Lầu

Bên cạnh việc phát triển kinh tế, tỉnh luôn quan tâm đầu tư phát triển và khai thác các thiết chế văn hóa; không ngừng phát huy thế mạnh về văn hóa, văn nghệ làm yếu tố chủ đạo để phát triển du lịch, ngành kinh tế được xác định là mũi nhọn của Bạc Liêu; xây dựng phong cách người Bạc Liêu trân trọng, hiếu khách, văn minh, lịch thiệp, phát huy tính cách phóng khoáng, hào hiệp, trọng nghĩa, trọng tình của người Bạc Liêu. Nâng cao văn hóa giao tiếp, văn hóa ứng xử, văn hóa công sở, văn hóa du lịch, văn hóa đối ngoại cho cán bộ và người dân; tạo dựng và phát huy sự thân thiện, chân tình giữa những người dân với nhau và với khách du lịch, với nhà đầu tư, với bạn bè trong nước và ngoài nước tạo nên “Sức hấp dẫn rất Bạc Liêu” nhằm tạo điều kiện phát triển kinh tế du lịch, đưa Bạc Liêu trở thành điểm đến hấp dẫn về du lịch của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Nam bộ và cả nước; xem đây là cách đi lên từ đặc điểm riêng có của tỉnh “Bạc Liêu đi lên từ văn hóa”.

 


Số lượt người xem: 67292 Bản inQuay lại
Xem theo ngày Xem theo ngày